Ngày 18 tháng 7 năm 2007,

Trích từ cuộc trò chuyện với Kevin Kelly

Công nghệ có ý nghĩa gì đối với cuộc sống của chúng ta? Công nghệ có vị trí nào trong vũ trụ này, với các cảnh huống của nhân loại và với đời sống cá nhân của riêng tôi?

Chúng ta có thể xem công nghệ như một hệ thống toàn diện, hay theo cách tôi thường gọi là Techium (Nguyên tố công nghệ, tương tự như cách gọi giới động vật, giới thực vật, giới vi khuẩn). Công nghệ từ xưa đến nay thường được dùng như là sức mạnh dùng để thống trị nền văn minh. Trong trường hợp này, thì chúng ta có thể mong đơi điều gì từ công nghệ và làm sao để kiểm soát nó? Than ôi, chúng ta thậm chí còn không có một lý thuyết đủ tốt giúp ta hiểu công nghệ là gì nữa là.

Ông hiện là chuyên viên kỳ cựu tại tạp chí Wired và là tác giả của cuốn sách bán chạy “Các quy tắc mới cho nền kinh tế mới” và cuốn sách kinh điển về các hệ thống phi tập trung mới nổi: “Out of Control”. Ông hiện là biên tập viên và nhà xuất bản của các trang nổi tiếng như Cool Tools, True Film và Street Use

Thông tin về tác giả Kevin Kelly

NGUYÊN TỐ CÔNG NGHỆ VÀ GIỚI SỐNG THỨ 7 CỦA TỰ NHIÊN

[KEVIN KELLY:] Có một câu hỏi thường làm tôi trăn trở là, Công nghệ có ý nghĩa gì đối với cuộc sống của chúng ta? Công nghệ có vai trò gì trong vũ trụ này? Vai trò gì đối với các cảnh huống của nhân loại? Và có vai trò gì đối với đời sống cá nhân của riêng tôi? Nếu xem công nghe như 1 hệ thống đồng nhất, hay thứ mà tôi gọi là Techium (Nguyên tố công nghệ, tương tự như giới động vật và thực vật, giới vi khuẩn), thì công nghệ dường như là một lực lượng dùng để thống trị nền văn minh. Trong trường hợp này, thì chúng ta có thể mong đơi điều gì từ công nghệ và làm sao để kiểm soát nó? Than ôi, chúng ta thậm chí còn không có một lý thuyết đủ tốt để nói về nó nữa là.

Tôi đang cố gắng tìm hiểu những cách để hiểu được những hệ quả lâu dài của công nghệ trên thế giới và đặt nó vào vị trí nào đó cùng với những thứ vĩ đại khác như bản chất của sinh học, lịch sử lớn, vật lý vũ trụ và tương lai. Đó là một dự án đầy tham vọng và có một điều đáng ngạc nhiên là dự án này không liên quan nhiều đến công nghệ, theo cách chúng ta thường hiểu, mà liên quan nhiều đến khả năng đánh giá những gì ta tạo nên.

Hiện cũng không có lý thuyết nào giúp ta tiên đoán về công nghệ. Tôi đã tìm hiểu cặn kẽ các nguyên tắc nền tảng bản của các kịch bản kiểu GBN để hiểu rằng tất cả các dự đoán đều sai theo mặc định. Vì vậy, khi tôi nói tiên đoán, tôi không có ý nói rằng chúng tôi thực sự có thể dự đoán (một cách cụ thể) là công nghệ sẽ làm gì tiếp theo. Ý tôi là tiên đoán theo ý nghĩa của một lý thuyết mà sẽ cung cấp cho chúng ta những công cụ để định hướng đi của nó ở quy mô lớn, một lý thuyết mà nó cho phép chúng ta biết đủ nhiều về quá khứ của công nghệ mà qua đó ta có thể mong đợi những thứ nhất định trong tương lai. Ngay bây giờ, chúng ta chỉ cơ bản là chấp nhận các công nghệ như chính bản thân nó, và mỗi công nghệ mới, từng cái một, lại khiến chúng ta bị mất cảnh giác. Một lý thuyết hữu ích về công nghệ là những gì tôi rất muốn tìm, mặc dù tôi không nghĩ rằng tôi có khả năng tạo ra nó.

Có một cảm giác chung là mỗi công nghệ mới lại mang đến cho chúng ta nhiều vấn đề mới cũng như các giải pháp mới – rằng nó cung cấp nhiều thứ mà chúng ta mong muốn cũng như nhiều thứ mà chúng ta muốn loại bỏ. Nhưng những gì chúng ta không có ở đây là một khuôn khổ đủ tốt để ứng phó với các nhân tố không ngừng đổi mới này, hoặc thậm chí là một khuôn khổ để hiểu liệu công nghệ là cái gì mà chúng ta nên, hoặc thậm chí có thể, ứng phó. Hoặc liệu chúng ta có nên quản lý công nghệ bằng cách không tạo ra nó ngay từ ban đầu? Và làm thế nào chúng ta có thể “không tạo ra”?

Một trong những cách phản ứng lại với các vấn đề của công nghệ là ngăn cấm. Với một số loại công nghệ có tác động bất lợi rõ ràng thì nên được quản lý bằng cách cấm sử dụng chúng một cách rộng rãi, ví dụ như điện hạt nhân, thực phẩm biến đổi gen, vv. Tương tự, có một số ý tưởng mà chúng ta thậm chí không nên có – các hướng nghiên cứu mà chúng ta nên cấm hoàn toàn và một số công nghệ không bao giờ được phép tung ra bên ngoài phòng thí nghiệm, hoặc thậm chí trong phòng thí nghiệm. Một lý thuyết khác (đối lập) cho rằng các lệnh cấm sẽ không hiệu quả và chúng ta không thể quản lý công nghệ bằng cách cấm sử dụng nó. Thay vào đó, chúng ta phải quản lý công nghệ bằng cách thay thế, dịch chuyển, tinh chỉnh – bằng cách di chuyển một công nghệ vào một vai trò khác mà không loại bỏ nó.

Ở đây (trong dự an này) tôi cũng không đưa lý thuyết tiên đoán về công nghệ. Tôi đã thấm nhuần một điều cơ bản rằng, tất cả các dự đoán là rất dễ sai và rất khó để đoán định tương lai . Vì vậy, khi tôi đề cập đến việc tiên đoán, tôi không có ý nói rằng chúng ta thực sự có thể dự đoán chi tiết về những gì công nghệ có thể làm.

Cụm từ “lý thuyết tiên đoán” tôi dùng ở đây được hiểu rằng, lý thuyết này sẽ là công cụ dò đường giúp ta biết công nghệ sẽ đi về đâu. Một lý thuyết có thể cung cấp cho ta đủ thông tin về các công nghệ trong quá khứ và qua đó mà ta có thể mong đợi những thứ cụ thể mà công nghệ có khả năng giải quyết trong tương lai.

Nhưng sau tất cả những điều này, chúng ta vẫn chưa có một cảm giác thật sự hiểu công nghệ là cái gì hoặc chúng ta nên xác định nó bằng cách nào. Thuật ngữ công nghệ, theo cách hiểu hiện nay, thậm chí không được phát minh cho đến năm 1829. Chúng ta đã phát minh biết bao công nghệ trong nhiều thế kỷ, nhưng đã không biết dùng từ gì để diễn tả nó. Điều tôi muốn nói là, chúng ta vẫn không biết chính xác nó là gì.

Khoa học và công nghệ về bản chất là kết nối với nhau. Chúng ta hay có cảm giác rằng khoa học là một phương pháp tư duy để từ đó tạo ra công nghệ, nhưng tôi có thể kết luận rằng chính tư duy công nghệ là điều giúp sản sinh ra khoa học.

Bản thân các phương pháp nghiên cứu khoa học không phải là bất biến. Nó đang phát triển, đang tiến hóa. Cái mà hiện chúng ta đang gọi là phương pháp nghiên cứu khoa học đã được thay đổi bởi công nghệ ngay từ đầu. Sự cần thiết việc thẩm định song song, việc lặp lại các thí nghiệm, ví dụ là các loại suy nghĩ chỉ có sau khi các công nghệ cần thiết như in ấn được phát minh. Một nhà nghiên cứu từ 400 năm trước sẽ không công nhận các phương pháp nghiên cứu khoa học ngày nay bởi vì rất nhiều yếu tố cần thiết cho việc nghiên cứu vẫn chưa được phát minh cho đến gần đây: ví dụ như giả dược, việc lấy mẫu thống kê, thí nghiệm mù đôi ( việc tiến hành thí nghiệm song song mà hai bên đều không biết kết quả của nhau).

Tất cả những điều này đều rất mới mẻ, và một số chỉ mới được phát minh trong vòng 50 năm trở lại đây.

Các công nghệ mới được phát minh ngày nay, chẳng hạn như mạng xã hội, thiết bị phân phối và các cách nhìn sự vật mới sẽ biến đổi phương pháp nghiên cứu khoa học trong tương lai. Rất có thể phương pháp nghiên cứu sẽ thay đổi nhiều hơn trong vòng 50 năm tới so với 400 năm thời kì đầu nó được phát minh.

Các công nghệ đặc thù giống như mỗi cá nhân, hoặc loài, và xã hội hay hệ sinh thái của những cá nhân này là Technium (nguyên tố công nghệ). Tôi đặc biệt quan tâm đến cách thức hoạt động của Technium ở cấp hệ thống – cách nó hoạt động như một hệ sinh thái bao gồm các chủng loại công nghệ, hay như một mạng lưới phức hợp trong đó các của các tác nhân tương tác cùng nhau với các thành kiến và khuynh hướng riêng của mỗi loài.

Hệ thống mới nổi của Technium – cái mà chúng ta thường ngụ ý bởi “Công nghệ” bắt đầu bằng chữ T (Technology) – có chương trình nghị sự của riêng nó, và cũng như những hệ thống phức tạp lớn, thực sự giống như chính bản thân cuộc sống. Đó là, mỗi sinh vật công nghệ riêng lẻ đều có một loại phản ứng, nhưng trong một hệ sinh thái bao gồm các loài cùng tiến hóa trong công nghệ, chúng ta tìm thấy một thực thể cao cấp- Technium ( thể sống công nghệ) – mà cách hoạt động của nó rất khác với một loài riêng lẻ.

Technium là một xã hội hữu cơ của công nghệ. Nó có sức mạnh riêng của nó. Lực lượng đó là một phần văn hóa (ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi con người), nhưng nó cũng là một phần không liên quan đến con người, một phần bản địa về mặt vật lý của chính công nghệ. Chính điều này khiến nó vừa đáng sợ và thú vị.

Tôi có xu hướng nghĩ về Technium giống như một đứa trẻ của toàn nhân loại. Công việc của chúng ta là đào tạo Technium, giúp nó thấm nhuần các nguyên tắc nhất định bởi vì, đến một mức độ và một độ tuổi nhất định, nó sẽ trở nên tự chủ hơn nhiều so với bây giờ. Rồi nó sẽ bỏ chúng ta, như những đứa trẻ mới lớn, để tìm lấy tự do cho nó. Mặc dù nó sẽ tương tác và sẽ luôn là 1 phần của chúng ta, thì ta vẫn phải để nó tự do.

Chúng ta không thể nuôi dạy một đứa trẻ thành 1 người trưởng thành bằng cách nhân danh quyền cha mẹ mà kiểm soát chúng. Chúng ta phải rèn luyện con chúng ta – làm dấy lên trong chúng một lương tri mạnh mẽ cùng những giá trị sâu sắc, mà từ đó chúng có thể tự định hướng mình để luôn làm điều đúng đắn trong cuộc sống vốn khó lường, thậm chí khó tưởng tượng này. Chúng ta cũng cần làm tương tự với Technium và các công nghệ của mình.

Cùng 1 cách nhìn như vậy, chúng ta cần cài đặt các giá trị của chúng ta vào các siêu sinh vật công nghệ này (Technium) để các giá trị này trở thành yếu tố định hướng cho các Technium. Nhờ đó, khi các Technium được trao quyền tự chủ hơn thì chúng vẫn sẽ làm điều đúng đắn. Để làm được điều đó, có một số vấn đề chúng ta cần giải quyết.

Một là,ta phải biết những gì chúng ta muốn. Chúng ta nhất thiết cần có một ý nghĩa sâu sắc về giá trị của mình cũng như những gì chúng ta đại diện. Trớ trêu thay, càng xuất hiện nhiều những tiến bộ công nghệ thì chúng ta càng ít chắc chắn về việc chúng ta là ai, chúng ta đại diện cho cái gì, với tư cách là 1 chủng loài hay 1 cá nhân. Vì vậy, khám phá về việc những gì quan trọng nhất đối với chúng ta sẽ là một thách thức lớn.

Hai, chúng ta phải trở nên rất thông minh và sắc sảo để cài đặt các định hướng tinh tế vào các hệ thống lớn. Chúng ta biết nó là điều có thể làm được vì những đứa con của chúng ta.

Ba, chúng ta phải sẵn lòng mạo hiểm cho các Technium quyền tự chủ để chúng ta có thể thu được tự do và lợi ích tối đa. Chúng ta sẽ đầu tư, cho đi và thu hoạch lợi ích. Đó là sự hài hòa trong kiểm soát mà tôi đã nghiệm ra. Chắc chắn đây là một hành động rất táo bạo và đáng sợ – hãy hỏi bất cứ ai – nhưng tôi tin rằng con người chúng ta có thể đối mặt với nó. Công việc đầu tiên là khó khăn nhất nhưng vấn đề là chúng ta không biết chúng ta là ai. Chúng ta thậm chí không biết là một con người thì có nghĩa là gì. Hầu như mỗi ngày các nhà nghiên cứu đều cung cấp thêm các thông tin buộc chúng ta phải đánh giá lại một khía cạnh cơ bản trong việc tồn tại của chúng ta. Liệu có sự khác nhau giữa ta và các động vật khác? Chúng ta có thật sự tồn tại không? Liệu ý thức của chúng ta là có thật không, liệu nó có phải là một điều đặc biệt không hay chỉ là một thứ vô thưởng vô phạt?

Chúng ta có bất kì giới hạn nào không, hay chúng ta nên có giới hạn nào không?

Danh tính của chúng ta đang được đề cao, thổi phồng và vặn vẹo bởi sự xuất hiện của các công nghệ mới: robot, trí tuệ nhân tạo, kỹ thuật di truyền, cơ học lượng tử, các công nghệ kĩ thuật cao, các khám phá trong lĩnh vực cơ thể và tâm trí, những phát hiện trong ngành vũ trụ học về vị trí của chúng ta trong Liên Vũ trụ (multiverses). Tất cả.

Mỗi khám phá và phát minh này thách thức quan niệm của chúng ta về những gì được định nghĩa là sự sống, hay định nghĩa con người là gì, hay thậm chí thế nào là 1 người Mỹ- bất kì cái gì mà ta từng biết.

Gần như mọi tín hiệu mà các công nghệ truyền đi đã làm suy giảm sự định danh của chúng ta.Vì vậy, chúng ta đã rơi vào một nhiệm vụ khó khăn là phải cố gắng tìm hiểu xem công nghệ có ý nghĩa gì song song với việc rằng nhân dạng của chính chúng ta đang thay đổi liên tục – chúng ta đang cố gắng giải quyết cả hai vấn đề trên cùng một lúc. Tôi tin rằng chúng ta không thể biết công nghệ có ý nghĩa gì (hoặc Technium muốn những gì) cho đến khi chúng ta biết điều ta muốn. Quan trọng hơn, tôi tin rằng chúng ta sẽ trả lời được cả hai câu hỏi trên bằng cách hiểu công nghệ là gì và rồi từ đó chúng ta sẽ hiểu chúng ta là ai.

Có một niềm tin phổ biến là, trong khi nền văn minh ngày nay đang ngày càng trở nên công nghiệp hơn thì bản chất con người vẫn được giữ nguyên. Nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng một thực tế rằng bản chất của con người chúng ta đang được cải biến, được định nghĩa lại và làm mới lại bằng công nghệ. Đây thật sự là một điều đáng sợ. Một cách cực đoan mà nói, nếu bạn nhìn xa hơn thì trong mười năm nữa, hay vài trăm năm tới nữa thì liệu chúng ta vẫn còn một loài, hay chúng ta sẽ tiến hóa thành nhiều nhánh khác nhau?

Triển vọng của việc phân nhánh di truyền (genetic forking) có lẽ là vấn đề gây chia rẽ nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng cho giống loài chúng ta và nó sẽ tạo ra xung đột ở quy mô lớn cho một số vấn đề vốn đang không thể giải quyết ngày nay – phá thai, nhân bản người, vv.

Những câu hỏi không có câu trả lời đã bắt đầu rồi. Ví dụ, Nếu một người tham gia chạy nước rút với hai chân làm bằng 2 lò xo từ sợi carbon, thì người này là một người khuyết tật hay là người đã được nâng cao các chức năng thể chất ? Nếu anh ta muốn thi đấu trong Thế vận hội, thì hai lò xo của anh ta lúc này là một cái nạng, hay một thiết bị trợ lực ( giúp anh ta nhảy cao hơn người bình thường)? Vậy thì con người lúc này được định nghĩa là gì đây?

Ngày nay, Hollywood và tác giả các sản phẩm khoa học viễn tưởng là những nhà thần học mới. Họ đã đặt ra những câu hỏi thiết yếu này trước cả những phần còn lại của xã hội. Các tác giả nổi loạn đang ngày càng nổi tiếng như Philip K Dick sẽ đưa ông và những người cùng tư tưởng với ông nhập vào dòng chảy thời đại, và các chủ đề mà ông đã nêu ra sẽ trở thành những câu hỏi chủ đạo của thế kỷ sắp tới.

Sự khác biệt giữa hư ảo và thực tế là gì? Chúng ta là ai? Chúng ta khác biệt nhau hay đều như nhau cả? Chúng ta bắt nguồn từ đâu? Linh hồn chúng ta kết thúc khi nào? Rất nhiều người, chứ không chỉ các nghệ sĩ, mới trăn trở về những câu hỏi này. Đây là những chủ đề cũ đã được nêu ra từ bao thế kỉ nay , nhưng các câu trả lời lại thường khác nhau khi bối cảnh thời đại thay đổi.

Chúng ta đang đào sâu vào lĩnh vực văn hóa do đó mỗi người chúng ta đều cần phải nêu ra những câu hỏi rất vĩ mô này. Nó không còn là công việc của các nhà triết học hay của các nghệ sĩ cấp tiến – mà còn là của những công dân bình thường. Với mỗi tựa báo mới phát hành tại tòa soạn USA Today, mọi người đều được gợi tiếp những câu hỏi như, con người là gì?

Ngôn ngữ thần học địa phương , theo một nghĩa nào đó, là một trong những khía cạnh không lường trước được của văn hóa công nghệ này

Các cuộc khủng hoảng liên tục về danh tính này có thể làm cho rất nhiều người chán nản và là một trong những yếu tố chính thúc đẩy con người hướng tới tôn giáo. Từ xưa, các tôn giáo, đặc biệt là tôn giáo chính thống, luôn tin rằng họ có câu trả lời rõ ràng cho những trăn trở này. Tuy vậy, các tôn giáo này lại không có câu trả lời cho câu hỏi đặc thù ngày hôm nay như liệu việc cơ giới hóa cơ phận ( như thay thế các bộ phận con người, lành lặn hay khuyết tật, bằng các thiết bị công nghệ) là có mang tính nhân đạo hay không, hay liệu liệu trí thông minh nhân tạo là có ích hay không, hay một con người chính xác là nên được định nghĩa như thế nào?…

Do đó, các cuộc khủng hoảng danh tính ( về mặt công nghệ) vĩ mô này sẽ là chủ đề lặp lại của thế kỷ này.

Tôi vừa mới đọc cuốn sách của Paul Davies, cuốn The Cosmic Jackpot (“Giải độc đắc của vũ trụ”- tạm dịch), trong đó ông vật lộn với những câu hỏi lớn nhất mà các nhà vũ trụ học luôn tranh cãi – đó là những câu hỏi vĩ mô về nguồn gốc vũ trụ, về việc tại sao vũ trụ lại tồn tại, và tại sao lại là vũ trụ này mà không phải vũ trụ nào khác (tính chất khác , quy luật khác …)?

Những câu hỏi “lớn” này thường là cấm kị trong suy nghĩ của các nhà khoa học ngày xưa bởi vì khoa học ngày ấy không thể đưa ra các câu trả lời chính xác. Davies cho thấy, trên thực tế, đấy là những trăn trở khoa học chính đáng và bởi thế chúng ta nên phát triển một vốn từ vựng tốt hơn, một khung tư duy tốt hơn để giúp đưa ra những câu hỏi trên và đặt chúng vào trong các điều kiện giả lập để kiểm chứng. Sự tâm huyết của tôi trong việc giải thích về mặt ngữ nghĩa của từ Technium cũng là nhằm giúp có thể đặt ra các câu hỏi vĩ mô và căn cơ tương tự.

Những câu hỏi tôi muốn đặt ra là, xuyên suốt quá trình tiến hóa của vũ trụ, từ Vụ nổ Big Bang cho đến hiện tại, thì đâu là nơi (thời gian và không gian) mà Technium, hay công nghệ, phù hợp để xuất hiện? Điều gì thúc đẩy việc ra đời và xâm lấn của các Technium đến các khía cạnh cuộc sống? Technium tự nó có phương hướng phát triển hay không?

Tôi muốn đặt ra những câu hỏi kinh điển theo phong cách Stephen Jay Gould, nếu chúng ta có khả năng điều khiển thời gian trên toàn thế giới và cho nó quay ngược lại quá khứ, kể cả các nền văn minh cũng quay lại thời điểm mà nó bắt đầu xuất hiện, và tại đó bạn có quyền được “chơi lại” thì liệu bạn có thể quan sát thấy công nghệ có lịch sử phát triển tự nhiên không?

Câu trả lời của tôi cho đến nay là có. Công nghệ không chỉ đơn thuần là một thực thể được tạo ra bởi con người. Gốc rễ của công nghệ có thể truy ngược lại từ vụ nổ Big Bang. Đó là một phần của cùng 1 thứ được tôi đặt là các hệ thống extropic. Hệ thống này là phần được suy ra thông qua các hệ thống sống tự tổ chức (living systems) , các tinh cầu có khả năng tự điều chỉnh, quần thể các tinh cầu kết hợp một cách tự nhiên và vân vân. Các hệ thống extropic cũng có thể được gọi là các hệ thống tự cân bằng bền vững .Chúng hoạt động theo hướng ngược lại với hệ thống entropic. Đây là những hệ thống bền vững, phức tạp và chúng luôn dao động trong những cảnh huống gần như sẵn sàng sụp đổ nhưng vẫn có thể tiếp tục duy trì như thế.

Qua thời gian, một loại hình nào đó sẽ dần dần được bồi đắp và xây dựng để trở nên ngày càng phức tạp hơn và được duy trì bên cạnh bờ vực của sự sụp đổ. Chúng ta có thể thấy các hệ thống extropic trong sự hình thành các thiên hà, sự hình thành của các hành tinh, sự sống, trí thông minh, và tôi tin là, trong cả sự hình thành công nghệ.

Bằng cách này, Technium có nhiều đặc tính chung với các sinh vật sống, linh hồn và các hệ thống tự cân bằng extropic khác. Công nghệ, do đó, có thể được hiểu (trong hệ quy chiếu là toàn vũ trụ) như là một sự phát triển tự nhiên từ vụ nổ Big Bang. Bởi vì chúng ta phát hiện được những manh mối rằng công nghệ có những điểm chung với các họ hàng của nó trong vũ trụ này nên chúng ta có thể tiến hành mổ xẻ và hiểu được nó thông qua các hệ thống extropic. Tôi tin rằng khi chúng ta xem xét các Technium trong bối cảnh của các hệ thống sinh động như thật, chúng ta có thể đưa ra một số dự đoán về quỹ đạo của nó cũng như cách chúng ta có thể sử dụng nó.

Một cách khác ta có thể dùng để tư duy về Technium là xem nó như là thể sống thứ 7 của tự nhiên. Có khoảng sáu thể sống trong tự nhiên theo sự phân loại của Lynn Margulis và những người khác. Ta hãy giả dụ rằng hệ thống extropic này bắt nguồn từ các loài động vật, là một trong sáu 6 thể sống tự nhiên, thì chúng ta có thể xem các Technium thể sống thứ 7 trong tự nhiên.

Rõ ràng có nhiều khác biệt giữa các hệ thống sinh học trong tự nhiên và Technium. Một trong những điểm khác biệt đó là nhìn chung các thể sống có nguồn gốc từ công nghệ này không bao giờ bị tuyệt chủng. Ví dụ, một trong những công nghệ đầu tiên được phát minh trong lịch sử là kĩ thuật tạo ra các đầu mũi tên. Ngày nay có năm nghìn thợ mài đá lửa làm việc tại U.S và việc họ đang làm là chế tác ra đầu mũi tên tương tự như như cách chúng được tạo ra từ thời nguyên thủy. Những người đam mê món nghệ thuật này có thể tạo được khoảng một triệu đầu mũi tên mỗi năm. Bạn có thể mua một con dao bằng đá chert được làm bằng tay trên eBay, được chế tạo bằng kĩ thuật tương tự 20.000 năm trước, với giá 50 đô la.

Tôi đã yêu cầu những người tôi biết đề xuất thử những công nghệ mà họ nghĩ đã tuyệt chủng và một nhà sử gia chuyên nghiên cứu công nghệ đã thử tìm ra 1 ví dụ. Ông ấy đề cập đến những chiếc xe hơi chạy bằng hơi nước: Rõ là ngày nay không ai dùng nó nữa. Thực ra thì hình ảnh này không đúng; mọi người vẫn đang sản xuất các bộ phận hoàn toàn mới cho xe ô tô Stanley chạy bằng hơi nước . Bạn có thể mua một van xe mới tinh, hoặc bất cứ thứ gì khác bạn cần có thể giúp cho chiếc xe cổ của bạn chạy.

Trong bình diện toàn cầu, tôi có thể đảm bảo rằng một nơi nào đó trên thế giới ngày nay, gần như mọi công nghệ bạn có thể tưởng tượng vẫn đang được sử dụng. Hoặc chúng vẫn được dùng như 1 công cụ trong cuộc sống hàng ngày, hoặc chúng được phục chế lại bởi những người hoài cổ.

Có một vài trường hợp ngoại lệ ở đây: chúng tôi không còn biết một hoặc hai công nghệ trong quá khứ đã được làm ra như thế nào nữa. Ngọn lửa Hy Lạp là một ví dụ về một công nghệ dường như bị mất. Nhưng nói chung, các loài công nghệ, không giống như các loài sinh vật, không bị tuyệt chủng.

Mặc dù đó là một sự khác biệt lớn, nhưng có rất nhiều điểm tương đồng giữa Technium và thế giới tự nhiên. Chúng ta có thể trình bày sự tiến hóa rõ ràng của Technium thông qua các đột biến trong kỹ thuật, và sự chuyển đổi lớn trong việc đổi mới các tổ chức công nghệ.

Chúng ta có thể thấy một sự vận động vĩ mô từ cái chung đến cái cụ thể. Công nghệ cũng đi theo dòng chảy thời đại trong một sự chuyển đổi trong quy mô toàn vũ trụ theo xu hướng ngày càng phức tạp hơn, đa dạng hơn với sử dụng nhiều năng lượng hơn. Vì vậy, chúng ta có thể xem Technium như là thể sống thứ 7 trong giới tự nhiên.

Một cách xuyên suốt, ta thấy được các Technium có khuynh hướng liên kết với 6 thể sống còn lại. Công nghệ vốn đã chung bản chất với các thể sống khác chứ không phải đối lập.

Một trong những lo ngại về công nghệ là nếu bạn để nó phát triển tự do, thì các Technium sẽ hủy đi hệ thống tự nhiên. Các công nghệ phát triển ngoài tầm kiểm soát đã luôn đươc xem là một kẻ thù bẩm sinh của thế giới sinh học. Ở một mức độ nào đó thì điều này rõ ràng là có ý.

Nếu chúng ta ghi nhận lại tất cả các cách thức mà toàn bộ các sự cố công nghệ – chặt phá rừng, ô nhiễm nhà máy, vv – đã phá hủy tính toàn vẹn của sinh quyển, rõ ràng chúng ta phải lựa chọn hoặc phải kiểm soát các Technium này hoặc môi trường của ta sẽ lâm vào cảnh bị tàn phá khốc liệt.

Nhưng tôi không nghĩ xu hướng phá hoại này vốn tồn tại trong công nghệ. Technium cũng muốn nhiều thứ tương tự nhưng con người. Một ví dụ là nước sạch. Hầu hết các quy trình công nghiệp đều cần dùng nước sạch và một số quy trình công nghệ cao đòi hỏi những nguồn nước sạch hơn cả nước uống. Theo nghĩa này, các Technium cũng không muốn ô nhiễm xảy ra; nó cũng muốn cùng một loại môi trường chưa bị vấy bẩn như chúng ta muốn, đặc biệt là trong công nghệ kĩ thuật cao.

Khi công nghệ ngày càng phát triển và trở nên tinh vi hơn thì nó càng gắn bó chặt chẽ hơn với các điều luật về môi trường, tương tự như con người. Trong thập niên 70, Paul Ehrlich (The Population Bomb) và những người khác đã rất lo ngại rằng khi Technium phát triển, nó sẽ tiêu thụ tất cả các nguồn tài nguyên hữu hạn chế của thế giới. Nhưng điều đó không xảy ra. Hóa ra các Technium có khả năng sản xuất hàng hóa (bằng các nguồn thay thế) một cách nhanh chóng trước khi các tài nguyên hữu hạn đó bị cạn kiệt.

Vì vậy, bây giờ, ngoại trừ dầu mỏ thì bạn không còn nghe thấy mối quan tâm về việc cạn kiẹt tài nguyên bởi vì công nghệ đã làm cho các nguồn tài nguyên có thể sử dụng ngày càng phong phú hơn, hoặc chúng ( các công nghệ cũ tiêu tốn nhiều tài nguyên) đã được thay thế qua việc phát triển các công nghệ mới.

Ô nhiễm là 1 thực trạng – và trong hầu hết các trường hợp thì giải pháp cho tình trạng ô nhiễm là tìm ra công nghệ tốt hơn. Tất cả các quỹ đạo của Technium đều hướng tới sử dụng vật liệu tái chế, tới việc sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, thay thế các nguyên liệu khan hiếm… Tất cả chúng được gọi chung là công nghệ xanh.

Tôi có thể tưởng tượng ra một ngày Technium và thiên nhiên đang chung sống rất hài hòa, kể cả trong dài hạn, trừ một khía cạnh mà hai lực lượng này dường như không có sự hợp tác: tiêu diệt môi trường sống của các loài. Các Technium dường như không nhạy cảm với việc tiêu diệt các loài khác. Tôi nghĩ rằng đây là một vấn đề thực sự, nhưng vấn đề này lại khiến chúng tôi ngộ ra rằng mình không có một sự hiểu biết sâu sắc về tất cả các loài trên trái đất.

Tổ chức All Species Inventory, mà tôi đồng sáng lập, là một trong những nỗ lực của chúng tôi để giải quyết sự thiếu hiểu biết này. Chúng ta không biết loài nào có trên trái đất, và chúng ta cũng không biết nhiều lắm về những loài chúng ta biết. Chúng ta đang ở tình huống rất kinh khủng đó là chúng ta thậm chí không biết mình nắm được bao nhiêu thông tin. Chúng ta nghĩ rằng mình biết được khoảng 1,7 triệu loài, nhưng thậm chí con số này cũng không chắc chắn vì ta chưa có được 1 danh sách được biên tạp cẩn thận, trong đó phải loại đi những loài trùng lặp, những tên cùng nghĩa, những tên không có trong danh sách, các từ đồng nghĩa và các loài bị ghi sai.

Bên cạnh đó, chúng ta thậm chí không có sự đồng thuận về con số trong việc ước định có bao nhiêu loài tồn tại. Các con số được tranh cãi từ 3 đến 100 triệu. Có một thực tế đáng kinh ngạc là không có lĩnh vực nào khác trong khoa học lại có sự thiếu hiểu biết to lớn đến vậy, về việc có bao nhiêu sinh vật trên trái đất.

Các nỗ lực giúp các Technium tương tác với hệ sinh quyển đang bị ngăn trở bởi sự thiếu hiểu biết to lớn của chúng ta. Chúng ta không thể chỉ biết có 5% số loài mà thôi. Nó giống như cố gắng làm các thí nghiệm hóa học mà không biết tất cả các nguyên tố; điều đó đơn giản là không thể. Giả sử trong trường hợp chúng ta khám phá cuộc sống trên một hành tinh khác thì điều đầu tiên chúng ta sẽ làm là tiến hành các cuộc khảo sát có hệ thống về tất cả sự sống trên hành tinh đó. Nhưng chúng ta đã không thực hiện điều đó với hành tinh quê nhà của chúng ta, điều đó thật đáng xấu hổ.

Ý tưởng thực hiện kiểm kê các loài vật trên khắp hành tinh không nhận được sự hào hứng của các nhà phân loại học vì nó trông có vẻ rất hoành tráng. Việc phân loại là một ngành khoa học ít nhận được ngân sách (Trong ngành này một khoản trợ cấp $ 10,000 đã là một dịp đáng được ăn mừng).

Nếu như nền khoa học chỉ liệt kê được 1 triệu loài trong 200 năm lịch sử của ngành phân loại học thì làm thế nào mà ta có thể mong đợi họ sẽ thêm vào được 10 hay 20 triệu loài nữa vào danh sách trong vài thập niên tới? Với cách thức phân loại theo cách Darwin đã làm (hiện vẫn đang được sử dụng) thì điều đó là không thể. Nhưng nếu việc phân loại được thực hiện thông qua phương pháp khảo sát trình tự các DNA thì sẽ khả thi hơn. Khi các Technium được tích lũy lượng kiến thức di truyền to lớn của tất cả các loài trên trái đất, và khi công nghệ kỹ thuật di truyền phát triển, thì sự phong phú của các thông tin di truyền này sẽ trở thành một lý do để Technium giúp chăm lo các loài hiện vẫn còn tồn tại.

Một lời chỉ trích phổ biến đến các tiến bộ về công nghệ là mỗi khi một phát minh ra đời, thứ được mong đợi là một giải pháp cho công nghệ cũ trước đó, thì nó lại tạo ra nhiều rắc rối tương tự như vấn đề mà nó giải quyết được. Tôi đồng ý với điều này. Nhưng tôi lại thấy trong mỗi “vấn đề” lại là một cơ hội. Trong bối cảnh và vị thế của tôi, những vấn đề là những là các ngách thị trường mà có thể giải quyết bằng các công nghệ mới.

Hệ quả xấu là có thật, nhưng đồng thời các cơ hội mới cũng được sinh ra từ đó. Nhưng nếu đến cuối cùng mà công nghệ chỉ tạo ra nhiều rắc rối tương tự như các vấn đề mà nó loại bỏ thì chúng ta có thể gọi sự tiến bộ này theo nghĩa nào? Nước đôi. Đây là lý do tại sao nhiều nhà kĩ nghệ gọi công nghệ là “mang tính trung lập”.

Đây là chỗ mà tôi không đồng ý. Tôi không nghĩ rằng công nghệ là 1 thứ gì đó trung lập, hoặc một sự pha trộn giữa cái tốt và cái xấu. Chắc chắn là nó tạo ra cả vấn đề và giải pháp, nhưng cái chính yếu của công nghệ là nó cung cấp cho chúng ta nhiều khả năng hơn, nhiều lựa chợn và nhiều tự do hơn, cơ bản là vậy. Đó là lý do mọi người chuyển đến các thành phố – họ muốn có nhiều lựa chọn hơn. Họ rời bỏ những hòn đảo Hy Lạp và các ngôi làng xinh đẹp ở Campuchia vì thành phố mang lại cho họ nhiều sự lựa chọn hơn. Họ rời khỏi các trang trại quê nhà- nơi mà các cộng đồng với các tập quán vô cùng tốt đẹp, luôn ủng hộ và che chở cho họ – không phải vì họ ghét nó; họ rời đi bởi vì họ muốn có nhiều lựa chọn hơn. Lý do chúng ta thích nhiều lựa chọn hơn là vì chúng cho chúng ta nhiều cơ hội giúp ta sử dụng tất cả tài năng của mình.

Chúng ta sẽ có cơ may lớn hơn để kết hợp các nguồn lực giới hạn của mình với các thời cơ, giúp tối đa hóa chúng.

Chúng ta bỏ qua các bất tiện không thể tránh khỏi mà các giải pháp mới mang lại, bởi vì chúng ta mong muốn thử hết các khả năng với hy vọng rằng mình sẽ có thêm các yếu tố để giải phóng tiềm năng của chính mình.

Những cơ hội (do công nghệ mới mang lại) này, những sự tự do này là một quyền lực rất mạnh. Ta hãy tưởng tượng thế giới sẽ thiệt hại ra sao nếu một nghệ sĩ vĩ đại như Mozart mà không có những chiếc đàn piano, hoặc dàn nhạc. Hay nếu Hitchcock ( nhà đạo diễn nổi tiếng) được sinh ra trước khi công nghệ phim được phát minh. Hoặc Van Gogh mà không có các nguyên liệu sơn dầu giá rẻ. Chắc chắn những thiên tài sẽ làm hết sức mình với bất cứ thứ gì họ có – có lẽ Beethoven sẽ chơi trống, Van Gogh sẽ dùng than củi.

Nhưng những thiên tài ấy được tôn vinh một phần vì bằng cách nào đó mà họ có thể nhận ra thiên bẩm thực sự của mình, từ đó họ tìm ra được một công cụ phù hợp giúp họ phô diễn được chúng ra.

Có những trẻ em ngày nay được sinh ra mà công nghệ hiện tại chưa giúp chúng phát huy hết tiềm năng được. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có nghĩa vụ về mặt đạo đức là phải tăng thêm các công nghệ của thế giới, để từ đó đảm bảo rằng thiên bẩm của mỗi người trên trái đất đều có cách để thể hiện. Đây cũng là điều mà các Technium muốn, chúng ta muốn và các thể sống khác của tự nhiên muốn: Sự gia tăng các lựa chọn.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here